Thơ Hồ Xuân Hương – bức tranh của một tâm hồn yêu cuộc sống mãnh liệt


Gác bỏ mọi thành kiến một bên, với tấm lòng sẵn sàng thông cảm với những vần thơ nhiều lúc xù xì, sỗ sàng quá lắm ấy, chúng ta sẽ bắt gặp một con người thiết tha yêu cuộc sống, cuộc sống khoẻ và mạnh. Một thứ chủ nghĩa yêu đời hồn nhiên và mộc mạc, đó mới là ý thức chủ đạo làm nên cái sinh khí, cái rạo rực, cái ý vị đậm đà của toàn bộ thơ Hồ Xuân Hương.

Thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương

Lòng  yêu đời đó thể hiện rõ ràng nhất trong tình cảm đối với thiên nhiên. Những bài thơ lấy đề tài trong cảnh vật thiên nhiên  hay cảnh sinh hoạt hàng ngày chiếm hơn một nửa số lượng thi phẩm.

Trong số đó ta có thể tìm thấy một ít bài mà tác giả của nó viết ra không phải cốt để tả cảnh, mà chỉ là mượn một cảnh, một vật nào đó để chế diễu các hạng người thường tự xưng là “anh hùng”, là “quân tử” (Quả mít, Con ốc nhồi…). Có bài tác giả gửi gắm vào đấy nỗi niềm tâm sự của mình (Bánh trôi nước). Ngoài ra trong những bài khác, Xuân Hương đã nói lên cái lòng yêu mến thắm thiết của mình đối với cảnh vật.

Cảnh vật trong thơ Hồ Xuân Hương tươi tắn, đậm đà và khoẻ mạnh làm sao! Con người Xuân Hương không thích cái thứ màu chết chóc báo hịệu sự tàn tạ của cuộc đời, cũng không ưa cái thứ  màu hiu hắt cô đơn. Màu sắc trong thơ Xuân Hương là màu sắc:

Cầu trắng phâu phau đôi ván ghép

Nước trong leo lẻo một doành thông.

                                                          (Giếng nước)

Đó như là màu xôn xao, rực rỡ của một cuộc sống đang trỗi dậy. Ngay dưới màu sắc đôi khi gay gắt quá, người ta cũng không thể không nhận thấy ở đây sự biểu hiện của một cuộc sống đang ở cái độ cực thịnh của nó:

Một trái trăng thu chín mõm mòm

Này vừng quế đỏ, đỏ lòm lom.

                                                        (Hỏi trăng)

Cũng như con người Xuân Hương, cái thế giới vô tri giác trong thơ bà luôn cựa quậy, động đậy, như tuồng cái sức sống nội tại của nó tràn đầy quá, mãnh liệt quá:

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,

Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

                                                      (Đèo Ba Dội)

Và nó bật thành tiếng:

Gió giật sườn non khua lắc cắc

Sóng dồn mặt nước vỗ long bong

                                                      (Kẽm Trống)

Những cảnh vật vốn không hoạt động gì, hoặc không hoạt động gì lắm, dưới mắt Xuân Hương cũng trở nên linh động vô cùng:

Cỏ gà lún phún leo quanh mép

Cá giếc le te lách giữa dòng

                                                      (Giếng nước)

Nhất là trong hai câu thơ lạ lùng này có lẽ làm trong lúc buồn bực:

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá ấy hòn.

                                                       (Tự tình)

Nói đến nghệ thuật tả cảnh của Xuân Hương, người ta thường đem so sánh với Bà Huyện Thanh Quan, một nữ thi sĩ ra đời sau Xuân Hương không xa mấy. Điều đó rất có ý nghĩa. Lấy một bài tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan, Bài “ Qua Đèo Ngang”, ta sẽ thấy trong đó một thế giới “không hình, không sắc không mùi vị”. Có tiếng cuốc, tiếng đa đa, nhưng thựck ra đó là thứ âm vang mơ hồ trong lòng con người. Và trong cái thế giới đó, cả không gian, cả thời gian, cả con người đều lắng xuống trong một trạng thái ngưng đọng vĩnh viễn.

Xuân Hương đón nhận thiên nhiên bằng tất cả các con đường mở rộng của các giác quan. Xuân Hương truyền sức sống của mình vào trong cảnh vật. Xuân Hương còn truyền cả cái đa tình của mình vào trong đó nữa. Thiên nhiên sẽ bừng tỉnh giấc mộng vô tri triền miên của mình để cảm xúc, và nhất là để yêu. Những giọt nước trong thơ Xuân Hương không phải là những giọt nước thông thường mà đó là những giọt nước “Hữu tình” (Chùa Hương Tích, Hang cắc cớ). Đá cũng biết yêu nhau:

Khối tình cọ mãi với non sông

Đá kia còn biết xuân già dặn…

                                             (Đá Ông Chổng Bà Chổng)

Trăng cũng biết hẹn hò chờ đợi:

Năm canh lơ lửng chờ ai đó

Hay có tình riêng với nước non

                                             (Hỏi trăng)

Xuân Hương yêu thiên nhiên và sau Xuân Hương, thiên nhiên trong độ phát triển sung sức của nó. Nhưng không cứ gì thiên nhiên, tất cả những gì dồi dào sức sống, biểu hiện được cuộc sống phơi phới là Xuân Hương đều trìu mến.

Dễ thường trước và sau Xuân Hương, hàng mấy thế kỉ văn học dưới thời phong kến và Pháp thuộc khó kiếm được một người – lại là một người đàn bà - đón xuân với tấm lòng rộng lớn, trọn vẹn thế này: “Sáng mồng một, lòng theo tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào” (Câu đối tết)

Tóm lại, đứng trước thiên nhiên, ngay trước những vật tầm thường nhỏ nhoi nhất, hình như bao giờ Xuân Hương cũng có một sự ngạc nhiên thú vị, bao giờ cũng tìm thấy một vẻ mới mẻ, một lí do để càng gắn bó với cuộc sống:

Đá kia còn biết xuân già dặn

Chớ trách người ta lúc trẻ trung.

   (Đá Ông Chổng Bà Chổng)

Hai câu thơ kết thúc bài “ Đèo Ba Dội”:

Hiền nhân quân tử ai là chẳng

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

Vừa có ý trêu chọc bọn “hiền nhân quân tử” dâm ô giả dối nhưng cũng đồng thời nói lên tấm lòng trìu mến đối với cảnh vật đất nước. Đó là thứ tình cảm lành mạnh, chân thành, khác hẳn với thứ tình cảm khuôn sáo, ước lệ trong văn học thời phong kiến và cả văn học lãng mạn sau này.

Xuân Hương của những ước mơ!

Xuân Hương cười cợt người đời nhiều quá, ngay cả với hai đức ông chồng xấu số của mình. Xuân Hương lại cười bằng cách cố tình gán ghép những hình ảnh thô tục vào ngay cả những vật không có gì thô tục. Cho nên ít hay nhiều người ta thường trách Xuân Hương vô tình. Nhưng ít có người chịu khó đi sâu vào tìm hiểu con người chân thực của Xuân Hương- một con người chứa chan tình cảm, chỉ biết cười và khát khao nhục dục, không thể có những đưa đẩy dù cũng có phần quá quắt, nhưng thật thắm thiết, thủy chung:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quyệt rồi.

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi.

                                                (Mời trầu)

Cũng không thể có được cái băn khoăn thể tất như trong bài Từ chối khéo này:

Mảnh tình ví xẻ làm hai được

Mảnh để trong nhà mảnh để ra.

Vậy thì Xuân Hương khao khát cái gì mà lời thơ Xuân Hương luôn rạo rực! Điều mà Xuân Hương khao khát là một cuộc sống tự do thoải mái, trong đó người ta có quyền hưởng lạc thú chính đáng ở đời. Ta nói ngay rằng cuộc sống tự do, những bức tranh lạc thú ở đời mà Xuân Hương đòi hỏi đó, chủ yếu là dựa trên bản năng. Nhưng đó là thứ bản năng hồn nhiên, lành mạnh, cái bản năng của người bính dân trong ca dao. Xuân Hương cho rằng việc ân ái là một cái gì đó rất tự nhiên, nó không chỉ là một nhu cầu mà còn là quyền của tất cả mọi người. Xuân Hương cười ông “quan thị” vì ông không biết đến cái “xuân tình”. Xuân Hương cũng không tha các cô thiếu nữ trong tranh vì dù cho “ ngàn năm còn mãi cái xuân xanh” thì cái đẹp, trẻ kia cũng chỉ là sắc đẹp chết, cái trẻ trung vô ích. Cho nên Xuân Hương rất rộng lượng với tuổi trẻ:

Chả trách người ta lúc trẻ trung.

Không chỉ rộng lượng một cách chung chung mà còn đứng ra bênh vực một cách táo bạo và khéo léo cho ngững kẻ “ không mà có”. Bà đưa ra hai lí do để bào chữa đó là sự cả nể  và cái đa tình. Tất nhiên chúng ta không hoàn toàn đồng ý với nữ trạng sư ấy, nhưng chúng ta vẫn thấy quí mến cái phần thể tất nhân tình, cái thái độ che chở cho kẻ yếu bị vùi dập dưới sự nguyền rủa và bị xử phạt nặng của xã hội phong kiến. Và trong một chừng mực nào đó cũng cần có thái độ bướng bỉnh như ở Xuân Hương để ném vào mặt xã hội khắc nghiệt, không tôn trọng nhân phẩm và nhu cầu chính đáng của con người.

Bản thân Bà cũng hai lần goá bụa, một lần làm lẽ, nên Xuân Hương cảm thông sâu sắc với nỗi khổ đau của bao kiếp hồng nhan. Bà ngày càng cảm thấy bực bội và chán ghét cái hiện thực cuộc sống xung quanh mình:

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!

Lời nguyền rủa chế độ đa thê của Xuân Hương chính là tiếng nói kết tinh của bao nhiên nỗi khổ đau căm hận của những mảnh đời phụ nữ trong xã hội phong kiến. Trong phạm vi văn học, những người văng tục mà sảng khoái như vậy không phải là nhiều.

Nhưng cũng cần biết những lời đốp chát như thế trong thơ Xuân Hương rất ít mà chủ yếu là cười cợt, mỉa mai, châm biếm. Đối tượng mà Xuân Hương hướng tới là vua chúa, quan lại, nho sĩ “rởm”… Trong bọn họ cái mà Xuân Hương đả kích là thói dâm ô và giả dối. Đây là vấn đề có tính xã hội hết sức rõ nét và nóng hổi trong xã hội Xuân Hương sống:

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Đi thì cũng dở, ở không xong.

                                                (Thiếu nữ ngủ ngày)

Thực ra, với Xuân Hương cười cợt, đả kích là để che giấu nỗi buồn thẳm sâu và rất thấm thía từ bên trong. Xuân Hương vui vì yêu đời nên Xuân Hương buồn cũng vì lòng yêu đời ấy. Ngọn lửa yêu đương bừng bừng trong lòng đã bao phen bị các trận mưa bão tàn nhẫn của cuộc đời vùi dập “ Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng”. Cô thiếu nữ Xuân Hương náo nức chờ xuân biết chừng nào thế mà bao mùa xuân cứ  vô tình lặng lẽ qua, chỉ để lại trong lòng người nỗi chua chát khôn khuây:

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại

Mảnh tình san sé tí con con.

                                                (Tự tình)

Sau những trận cười giòn giã chỉ còn lắng lại tiếng trống canh xa vắng của những đêm khuya mình đối mình, và cái cố đơn của kiếp người:

Đêm khuya văng vẳng trống canh đồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.

                                                (Tự tình)

Ngay cả những lúc người ta tưởng chừng Xuân Hương đang cười, nếu tinh ý sẽ thấy trong tiếng cười đó pha chút bùi ngùi vì đắng cay, vì vắng lạnh, vì niềm vui thoảng qua.

Chơi xuân, có biết xuân chăng tá?

Cọc nhor đi rồi, lỗ bỏ không!

Hay một chút xót xa, sầu thảm dù số bài thơ buồn của Xuân Hương rất ít.

Mõ thảm không khua mà cũng khốc

Chuông sầu chẳng đảnh cớ sao om.

Nhưng Xuân Hương luôn vượt lên cái sầu thảm ấy để bám chặt lấy cuộc sống, để thách thức xã hội và để khẳng định giá trị của mình. Bà tự hiểu mình lắm, và không ngần ngại gì mà không nói thẳng vào mặt lũ học trò láu táu kia:

Lại đây cho chị dạy làm thơ.

Bình phẩm viên thái thú họ Sầm hùng hổ kéo quân sang từ Trung Quốc để có thể nuốt chửng nước Việt nhỏ bé, rút cục chỉ mua lấy cái chêt nhục nhã, Xuân Hương mỉa mai và giễu cợt:

Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

                                     (Đề đền Sầm Nghi Đống)

Yêu đời, lại có ý thức về chân giá trị của mình: “Giơ tay với thử trời cao thâp. Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài”, ấy thế mà cuộc đời Xuân Hương không thấy bóng dáng của hạnh phúc. Đó là tấn bi kịch của một kiếp người và cũng là tấn bi kịch của bao kiếp người khác. Tấn bi kịch đó ẩn sâu trong đáy lòng người trong cuộc, và người ngoài thường chỉ chú ý nhiều đến tiếng cười ở bên ngoài.

Trong văn học nước nhà ít có nhà thơ nào mà cái cá tính mãnh liệt chi phối sâu sắc và mạnh mẽ hình thức nghệ thuật như vậy, nhất là các tác giả thời phong kiến thường hay tìm cách che giấu cái chủ quan của mình trong những tình ý chung, trong những phương thức biểu hiện công thức, nhiều tính chất tượng trưng. Và Xuân Hương mãi là nữ thi sĩ đem tình yêu cuộc sống theo cách rất riêng của mình đến cho mọi người, mọi thời.

NNC LÊ HOÀI NAM

Nguồn: http://www.vnq.edu.vn

Người gửi: viebooks.com Ngày: 09/04/2015 306 1 0
Bạn đã bình luận quá số kí tự.