Trần Nhân Tông

07/02/1258-16/12/1308

Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 121258 – 16 tháng 121308), là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái thượng hoàng 15 năm.

Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị hoàng đế nổi tiếng anh minh trong lịch sử Việt Nam, có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Lúc này, quân đội Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã đánh tan tác quân đội hùng mạnh của Nhà Nguyên, bảo vệ bờ cõi Đại Việt trước vó ngựa nổi tiếng vô địch của người Mông Cổ. Ngay sau khi dẹp yên quân giặc, ông cho giảm thuế, phát lương chẩn, tích cực khôi phục các công trình đã bị quân Nguyên hủy hoại, mau chóng sau đó quốc gia hồi phục, Đại Việt dần lấy lại sự hưng thịnh và phát triển cực thịnh thêm nữa.

Năm 1293, Nhân Tông thoái vị, nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên (陳烇) kế vị, tức Anh Tông hoàng đế, ông lui về làm Thái thượng hoàng, chuyên tâm vào nghiên cứu Phật giáo. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nổi tiếng. Sau khi nhường ngôi, ông thường hay lấy pháp hiệu là Đầu đà Giác Hoàng Điều ngự.

Bên cạnh là một vị hoàng đế tài năng, Nhân Tông còn nổi tiếng là một nhà thơ xuất sắc của triều đại nhà Trần. Thơ ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ. Ở đấy cũng thể hiện sự hoà hợp khó chia tách giữa một ngòi bút vừa cung đình vừa giản dị, có cả những kiến thức sách vở uyên bác lẫn với sự từng trải lịch lãm.

Trần Nhân Tông đã có các tác phẩm Trần Nhân Tông thi tậpĐại hương hải ấn thi tậpTăng già toái sựThạch thất mỵ ngữ và bộTrung hưng thực lục do ông sai văn thần biên soạn. Tuy nhiên, hiện chỉ còn tìm thấy 31 bài thơ, hai cặp câu thơ lẻ, một bài minh và một bài tán. Ngoài ra, trong sách Thiền tông bản hạnh còn có hai bài văn Nôm biền ngẫu ghi tên ông là tác giả.

Ngay từ khi sinh ra, ông được tả là được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, và cha mẹ ông gọi ông là Kim Tiên đồng tử (金仙童子).Ông tên thật là Trần Khâm (陳昑), là con trai trưởng của Thánh Tông Tuyên Hiếu hoàng đế, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu Trần Thiều, sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ, niên hiệu Thiệu Long năm thứ 1 (tức 7 tháng 12 năm 1258).

Cai trị

Ngày 22 tháng 10 âm lịch, năm Mậu Dần (tức 8 tháng 11 năm 1278), ông được Thánh Tông hoàng đế nhường ngôi, tự xưng là Hiếu Hoàng. Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức Lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình).

                               

Đức Lăng - Lăng mộ vua Trần Nhân Tông ở Thái Bình

Chống quân nhà Nguyên

Năm 1258, quân Mông Cổ từng thất bại ở Đại Việt trong việc tìm cách mở một hướng từ phía Nam để đánh vào lãnh thổ Nam Tống.

Năm 1279, Nam Tống hoàn toàn bị Đại Nguyên thôn tính. Tháng 8 năm này, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản.

Bấy giờ nhà Nguyên sai sứ sang hạch điều này, trách điều nọ, triều đình cũng có nhiều việc bối rối. Nhưng nhờ có Thượng hoàng Thánh Tông còn coi mọi việc và các quan trong triều nhiều người có tài trí, Nhân Tông lại là một vị vua thông minh và quả quyết, mà trong nước từ vua quan đến dân chúng đều một lòng cả, nên từ năm 1285 đến 1287, Nguyên Mông hai lần sang đánh Đại Việt nhưng bị đập tan.

Ngoài ra, quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu biên giới, bởi vậy năm 1290 nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp.

Năm 1293, ông nhường ngôi cho con trưởng là Trần Thuyên để làm Thái thượng hoàng, tôn hiệu là Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế, lui về phủ Thiên Trường theo lệ truyền thống của các Thượng hoàng. Trần Thuyên lên ngôi tức Trần Anh Tông.

Cứng rắn với con cái

Bấy giờ Anh Tông còn mê rượu chè, một hôm vua uống rượu say khướt. Lúc đó Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường trở về kinh sư, các quan trong triều không ai biết.

Thượng hoàng không thấy Anh Tông, bèn hỏi. Cung nhân vào trong nội đánh thức, nhưng không tỉnh. Thượng hoàng giận lắm, lập tức trở về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội.

Anh Tông tỉnh rượu sợ hãi, may nhờ được học trò Đoàn Nhữ Hài soạn tờ biểu tạ tội, đi gấp tới phủ Thiên Trường, dâng biểu tạ tội. Sau một lúc lâu Nhân Tông nhận biểu để xem, thấy lời lẽ khẩn thiết cho gọi Anh Tông vào răn bảo và tha tội.

Xuất gia

Năm 1293, ngày 9 tháng 3, Nhân Tông hoàng đế nhường ngôi cho Hoàng thái tử Trần Thuyên, tức Trần Anh Tông. Hoàng đế đổi niên hiệu là Hưng Long, đại xá, tự xưng là Anh Hoàng, tôn Thượng hoàng làm Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng hoàng đế.

Sau khi nhượng vị, Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tu hành tại hành cung Vũ Lâm, Ninh Bình. Đến năm 1299, Nhân Tông thượng hoàng rời đến Yên Tử (Quảng Ninh), ngự tại am Ngự Dực, tu hành khổ hạnh và thành lập Thiền phái Trúc Lâm, còn gọi là Trúc Lâm Yên Tử hay Trúc Lâm Tam tổ. Thượng hoàng lấy đạo hiệu là Trúc Lâm đại sĩ, là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này, đệ tử là Pháp Loa chính là vị Thiền sư kế vị dòng thiền. Về sau ông được gọi cung kính là Phật Hoàng nhờ những việc này.

Năm Mậu Thân, Hưng Long năm thứ 16, ngày 3 tháng 11 âm lịch (tức 16 tháng 12 năm 1308), Nhân Tông thượng hoàng băng tại am Ngọa Vân núi Yên Tử, được an táng ở Quy Đức lăng, phủ Long Hưng, xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân. Ông được dâng miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế.

Tác phẩm

Tác phẩm của Trần Nhân Tông có:

         - Thiền lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền)

         - Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt của sư tăng)

         - Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá)

         - Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm)

         - Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông)

         - Trung Hưng thực lục (2 quyển): chép việc bình quân Nguyên xâm lược.

Các phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại 25 bài thơ chép trong Việt âm thi tậpToàn Việt thi lục.

Giới thiệu thi phẩm

Trần Nhân Tông còn là một nhà thơ Thiền xuất sắc trong dòng thơ thời Lý-Trần.

Xuân hiểu

Thụy khởi khải song phi

Bất tri xuân dĩ quy

Nhất song bạch hồ điệp

Phách phách sấn hoa phi

                                       Buổi sớm mùa xuân - (Dịch thơ Ngô Tất Tố)

                                                Ngủ dậy ngỏ song mây

                                              Xuân về vẫn chửa hay,

                                              Song song đôi bướm trắng,

                                              Phất phới sấn hoa bay.

 

 

Vũ Lâm thu vãn

Hoạ kiều đảo ảnh trám khê hoành,

Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại minh.

Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,

Thấp vân hoà lộ tống chung thanh.

                       Chiều thu ở Vũ Lâm - (Hạt Cát dịch thơ)

                            Suối khe lồng bóng cầu treo,

                            Long lanh ngấn nước nắng chiều nghiêng soi.

                            Núi non quạnh quẽ lá rơi,

                             Phôi pha sương khói mây trôi chuông rền.

 

 

Hạnh Thiên Trường hành cung

Cảnh thanh u vật diệc thanh u

Thập nhất tiên châu thử nhất châu.                               

Bách bộ sinh ca, cầm bách thiệt,

Thiên hàng nô bộc, quất thiên đầu

Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự

Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu.

Tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tĩnh

Kim niên du thắng tích niên du.

 Dạo chơi hành cung Thiên Trường -(Bản dịch Khuyết danh)

Cảnh thanh u vật cũng thanh u

Mười mấy châu tiên ấy một châu.

Trăm tiếng đàn chim, dàn nhạc hát

Nghìn hàng đám quýt, đám quân hầu

Trăng vô sự chiếu người vô sự

Nước có thu lồng trời có thu.

Vừa bốn bể trong, vừa bụi lặng

Độ xưa so với độ nay thua.

 

Cư trần lạc đạo phú                                

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.[4]

Dịch nghĩa:

Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo

Đói thì ăn, mệt thì ngủ

Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác

Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi thiền nữa.

Cảnh thanh u vật cũng thanh u[5]

Gia quyến

- Cha: Thánh Tông Tuyên Hiếu hoàng đế Trần Hoảng.

- Mẹ: Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu Trần thị ? - 1287), húy là Thiều, con gái của Khâm Minh Đại vương - Trần Liễu.

- Hậu phi:

  1. Khâm Từ hoàng hậu Trần thị (? - 1293), húy Trinh, con gái trưởng của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
  2. Tuyên Từ hoàng hậu Trần thị (? - 1318), em gái của Khâm Từ hoàng hậu, mẹ là thị thiếp của Hưng Đạo đại vương.

- Hậu duệ:

  1. Trần Thuyên, Anh Tông Nhân Hiếu hoàng đế, con của Khâm Từ hoàng hậu.
  2. Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn , có thể mẹ là Tuyên Từ hoàng hậu.
  3. Thượng Trân công chúa, lấy Văn Huệ công Trần Quang Triều, cháu nội Trần Hưng Đạo.
  4. Thiên Trân công chúa (? - 1309), lấy Uy Túc công Trần Văn Bích, con Văn Túc vương Trần Đạo Tái, cháu nội Trần Quang Khải.
  5. Huyền Trân công chúa, lấy Jaya Sinhavarman III của Chiêm Thành.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org