Lâm Thị Mỹ Dạ

18/09/1949

“Thơ là cái mới mẻ trong cái bình thường. Nhìn thấy nó đã khó, mà diễn tả được nó càng khó vô cùng
Thơ như một vị thần linh bất chợt đến rồi đi nếu không nhanh nắm bắt khoảng khắc kỳ diệu đó thì sẽ mất” (Lời tự bạch của nhà thơ)
 
    Lâm Thị Mỹ Dạ sinh tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, cha là người gốc Hoa, mẹ người Huế.Cha Lâm Thị Mỹ Dạ, ông Lâm Thanh đã từng tham gia Việt Minh và đến năm 1949 vào Sài Gòn sinh sống, năm 1954, ông định đưa cả gia đình vào đây nhưng vợ ông, bà Lý Thị Đấu không thể mang Lâm Thị Mỹ Dạ đi theo được vì phải chăm sóc mẹ già và em gái. Mặc dù sau khi đất nước thống nhất ông đã được nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ vì đã có công với cách mạng trong thời gian sinh sống ở Sài gòn nhưng trong suốt thời gian trước đó, ở quê ông bị cho là "theo địch vào Nam". Mẹ Lâm Thị Mỹ Dạ đã từng học tiểu học bằng tiếng Pháp, thời còn trẻ đã từng bán hàng cho các đồn lính Pháp nên khi cải cách ruộng đất bà bị quy là do "địch cài lại" và bị đấu tố. Cộng thêm với việc ông nội là đại địa chủ nên trong những năm tuổi thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ sống trong nghi kỵ, xa lánh của bạn bè, người quen. Mặc dù đã học xong cấp III nhưng bà không được học tiếp bậc cao hơn do vấn đề lý lịch
 Bà làm việc tại Ty văn hóa Quảng Bình, năm 1978 đến 1983 học Trường viết văn Nguyễn Du. Sau đó bà làm phóng viên, biên tập viên tạp chí Sông Hương (của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên - Huế). Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa V. Hiện bà đang sống tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Chồng bà, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một nhà văn, nhà thơ có tiếng ở Việt Nam.
 Nhà thơ dành được rất nhiều giải thưởng cao quí như  : Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1973. Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam 1981 - 1983. Giải A của ủy ban toàn quốc Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, 1998 với tập thơ Ðề tặng một giấc mơ.
 
 Tự Bạch
        Tuổi thơ tôi có những nỗi trắc ẩn - và khi mới lên 10 tôi đã có bài thơ Dòng sông đen. Bài thơ rất buồn. Tôi đã nhìn dòng sông xuyên qua tâm hồn đau đớn, tối thẳm của tôi lúc đó. Nhưng sau 25 năm, khi con gái tôi bằng tuổi tôi ngày ấy - trở lại dòng sông quê hương, tôi đã nhận ra một điều - dòng sông không có đen mà nó rất trong xanh. Phải chăng tâm linh con người là cội nguồn - là thứ gương soi kỳ lạ đặc biệt phản chiếu mầu sắc ánh sáng thơ, ánh sáng đời sống. Và tấm gương soi đó không có thời gian, không có tuổi. Có thể khi ta đã già tâm hồn vẫn còn rất trẻ và ngược lại.
 
Thơ là cái mới mẻ trong cái bình thường. Nhìn thấy nó đã khó, mà diễn tả được nó càng khó vô cùng. Người ta chỉ đạt đến thơ như khi một quả trứng nóng bức tới mức tự nó phải tách vỏ nổ ra đời sống - một đời sống sinh động, có hình hài. Nếu vội vã bóc lớp vỏ đi khi chưa đến độ thì sẽ chẳng bao giờ đạt đến thơ mà chỉ có những ngôn từ chết. Vì vậy có được một bài thơ hay vô cùng khó.
 
Yếu tố để có thơ hay theo tôi là phải sống thật với chính mình.
 
Thơ như một vị thần linh bất chợt đến rồi đi nếu không nhanh nắm bắt khoảng khắc kỳ diệu đó thì sẽ mất.
 
  Sự nghiệp thơ ca
    Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hồ Thế Hà đã viết: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu ý tứ. Tứ thơ bao giờ cũng là bất ngờ. Hình như không tạo được tứ lạ thì bài thơ vẫn còn trong dự tưởng.". Nhà thơNgô Văn Phú cũng nhận định: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hay ở những chỗ bất thần, ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính."
    Bà là một trong những gương mặt quen thuộc của thơ ca Việt Nam đương đại. Nhà thơ quan niệm “Thơ là cái mới mẻ trong cái bình thường, thấy nó đã khó, mà diễn tả được nó càng khó”. Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu lòng trắc ẩn trước những miền địa hạt tình yêu, những trăn trở trước thời đại. Ý niệm chính trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là “trạng thái nhuyễn lỏng của thời gian” (Đinh Từ Bích Thúy). Chính điều đó “đã tô màu xanh linh động, cho lá non, cho cốm, cho cây na, cho đường cây long não ở Huế, và cả cho những nuối tiếc về tuổi xuân đã vụt bay”. Tập thơ gần đây nhất “Hồn đầy hoa cúc dại" có nhiều hình tượng thơ hay và lạ như thời còn trẻ: Em quặn mình như rễ giữa đất im (Cho anh tựa vào em); Nếu được lạc cùng sông / Xin lạc mãi / Để hồn trôi êm ái khúc du ca (Đi cùng sông Hương); Vì hương ta mãi lòng vòng / Làm sao cầm được có - không mà về... (Đi qua một làn hương)...Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ dung dị mà đi sâu vào lòng người bởi nó bắt nguồn sự buốt nhói của trái tim.